Hủy bỏ quyết định xử phạt nguyên Chủ tịch FLC Trịnh Văn Quyết, vì sao?

Posted by

Chiều 06/4/2022, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước  ban hành Quyết định số 188/QĐ-HB về việc hủy bỏ Quyết định số 34/QĐ-XPVPHC về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Trịnh Văn Quyết.

Chiều 06/4/2022, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước  ban hành Quyết định số 188/QĐ-HB về việc hủy bỏ Quyết định số 34/QĐ-XPVPHC về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Trịnh Văn Quyết.

Hủy bỏ quyết định xử phạt Trịnh Văn Quyết 1,5 tỉ đồng

Ngày 18/01/2022, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã ban hành quyết định về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán đối với ông Trịnh Văn Quyết, địa chỉ: B30-BT6 Đô thị Mỹ Đình 2, Mỹ Đình 2, Nam Từ Liêm, Hà Nội. Mức phạt tiền 1,5 tỉ đồng và bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là đình chỉ hoạt động giao dịch chứng khoán 5 tháng.

Lý do là ông Trịnh Văn Quyết đã bán 74,8 cổ phiếu FLC vào ngày 10/01/2022 nhưng không báo cáo về việc dự kiến giao dịch.

Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành điều tra, xác minh đối với ông Trịnh Văn Quyết, các cá nhân thuộc Công ty Cổ phần Tập đoàn FLC, Công ty Cổ phần Chứng khoán BOS và các công ty có liên quan về hành vi “Thao túng thị trường chứng khoán”, “Che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán” xảy ra ngày 10/01; gây thiệt hại nghiêm trọng cho nhà đầu tư, ảnh hưởng đến hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam.

Vì thế, Cơ quan Cảnh sát điều tra có văn bản đề nghị Ủy ban Chứng khoán Nhà nước hủy bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Trịnh Văn Quyết.



Uy ban chứng khoán Nhà nước vừa hủy bỏ quyết định xử phạt Trịnh Văn Quyết 1,5 tỉ đồng (Ảnh minh họa)

 



Tại sao ông Quyết không phải nộp phạt 1,5 tỉ đồng?

Điều 13 Nghị định 118/2021 thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính đã hướng dẫn Hủy bỏ, ban hành quyết định mới trong xử phạt vi phạm hành chính như sau:

1. Người đã ban hành quyết định tự mình hoặc theo yêu cầu của những người quy định tại khoản 3 Điều 18 Luật Xử lý vi phạm hành chính phải ban hành quyết định hủy bỏ toàn bộ nội dung quyết định nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Không đúng đối tượng vi phạm;

b) Vi phạm quy định về thẩm quyền ban hành quyết định;

c) Vi phạm quy định về thủ tục ban hành quyết định;

d) Trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật Xử lý vi phạm hành chính;

đ) Trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 12 Luật Xử lý vi phạm hành chính;

e) Trường hợp quy định tại khoản 10 Điều 12 Luật Xử lý vi phạm hành chính;

g) Trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 62 Luật Xử lý vi phạm hành